Pages

Subscribe:

Nguyên tắc phân biệt giữa quản trị và quản lý

    Có 5 nguyên tắc cần thiết đế thúc đẩy quá trình lên kế hoạch và các nguyên tắc này phải được tôn trọng trong quá trình triển khai chương trình:

    Các chủ sở hữu và nhà quản lý cần phân biệt rõ giữa quản trị và quản lý một doanh nghiệp bằng cách xác định rõ vai trò, trách nhiệm, và các lĩnh vực thuộc trách nhiệm giải trình đối với các nhà hoạch định chính sách và quản lý. Ngay cả khi chủ sở hữu là nhà quản lý cấp cao hoặc nếu các nhà quản lý cũng là ủy viên hội đồng quản trị, thì vẫn phải tôn trọng các vai trò và trách nhiệm khác nhau. Chẳng hạn, quản trị sẽ có tầm nhìn rộng hơn: đề ra các chính sách để hướng dẫn tất cả nhân viên và người thừa hành, kế cả chủ sở hữu.

    Nguồn gốc thẩm quyền của hội đồng quản trị (HĐQT) công ty là từ các chủ sở hữu của công ty’. HĐQT là bộ phận nắm quyền thiết yếu. Thẩm quyền này không do cấp quản lý ban phát hoặc xác định. Các chính sách do HĐQT đưa ra kiểm soát tất cả mọi thứ, cả về quản trị lẫn quản lý.

    Tuy nhiên, trên thực tế HĐQT thường được xem như là cố vấn cho ban giám đốc thay vì là nguồn gốc tạo ra thẩm quyền cho nó. Thật vậy, nhiều vụ hình những mong đợi hợp lý . Trường hợp này áp dụng cho mọi doanh nghiệp bất kể là doanh nghiệp có qui mô lớn và phức tạp (LCE) hay doanh nghiệp qui mô vừa và nhỏ (SME). Phần thảo luận sau đây sẽ nhắm vào những chức năng cụ thể trong quá trình thiết kê và triển khai chương trình đạo đức kinh doanh, mà chủ thể liên quan là các chủ sơ hữu và nhà quản lý của SME. Thực tế cách họ chọn nhân viên để thực hiện các chức năng sẽ phụ thuộc vào qui mô, độ phức tạp và nguồn lực của doanh nghiệp.

phân biệt giữa quản trị và quản lý

     RBE nhận thấy việc xác định các bên liên quan là không dễ dàng. Một sô nhân viên sẽ đồng thời là khách hàng hay người tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty. Họ có thể nắm giữ cổ phiếu hay quyền chọn mua cổ phiếu công ty và có thế là chủ sở hữu. Họ có thế sống ở những cộng đồng bị ảnh hưởng bởi các phế phẩm mà công ty rò rỉ ra môi trường. Họ có những người láng giềng có ý kiến mạnh về cách thức làm ăn cua doanh nghiệp. Họ mong chờ chính phủ cung cấp đường sá tốt và các dịch vụ khác, mà điều này có thê bị dàn xếp bởi nạn hôi lộ và tham nhũng trong kinh doanh. Như một học giả đã nói “quanniệm về các bên liên quan nói đến những nhóm hoặc thực thế rời rạc, trong khi nguồn gốc hàng đầu gây ra những khó xử trong đạo đức kinh doanh là thực tế hầu hết chúng ta đều có (ít nhất) hai vai trò”.

     Để hiệu quả, tiết kiệm chi phí, và có trách nhiệm, doanh nghiệp phải có những niềm tin cốt lõi bao gồm một tương lai được phác họa theo những gì mà các bên liên quan có thể mong đợi một cách hợp lý, và doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm giải trình như thế nào. Chuyên ngành hành vi kinh doanh có sự tham gia của các bên liên quan để nuôi dưỡng những kỳ vọng hợp lý cua họ.

     Doanh nghiệp đang gặp rủi ro vì hành vi sai trái của nhân viên, thì doanh nghiệp này sẽ sử dụng chương trình đạo đức kinh doanh để ngăn chặn và phát hiện những việc làm sai trái. Nếu nhân viên e ngại không dám lên tiếng, doanh nghiệp này sẽ tạo ra những cơ chế hiệu quả để các nhân viên tìm kiếm lời khuyên và báo cáo hành vi sai trái mà không sợ bị trả đũa.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức doanh nghiệp